Về di chúc chung của vợ chồng Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

có liên quan. Ví dụ: di chúc chung có thể định đoạt tài sản chung và cả tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng, trong trường hợp vợ, chồng có đề cập đến tài sản riêng trong di chúc chung đó; hoặc hiệu lực (một phần) của di chúc chung có thể được xác định vào thời điểm một bên vợ hoặc chồng chết. Nhưng nếu vợ, chồng thỏa thuận về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung hoặc thỏa thuận về thời điểm phân chia di sản thì cần phải tôn trọng thỏa thuận đó. Sự kết hợp mềm dẻo giữa quy định về di chúc cá nhân, quyền thừa kế của cá nhân với việc lập di chúc chung, hiệu lực và thực thi di chúc chung có một số đặc thù, sẽ làm cho quy định về di chúc chung không mâu thuẫn với quy định chung về thừa kế, nhưng vẫn bảo đảm được các nội dung cần thiết và những dấu hiệu riêng biệt của loại di chúc đặc thù này. Để đạt được yêu cầu đó, nhà làm luật cần quán triệt quan điểm xem di chúc chung của vợ, chồng như là trường hợp đặc biệt của di chúc cá nhân, là sự cộng lại của hai di chúc cá nhân, có tính đến sự đặc thù về hiệu lực của quan hệ hôn nhân giữa những người lập di chúc chung, cũng như đối tượng của di chúc ở đây là tài sản chung của vợ, chồng. 3.1.3. Ngoài việc quy định rõ ràng về các trường hợp cụ thể đặc thù của di chúc chung, pháp luật cần giải quyết rốt ráo các vấn đề bất cập phát sinh từ việc thừa nhận các đặc thù đó. Khi luật thừa nhận những tính chất, dấu hiệu đặc thù của di chúc chung sẽ dẫn đến một số điểm khác biệt trong việc áp dụng pháp luật và hậu quả pháp lý của của việc áp dụng các quy định khác biệt đó. Trong những trường hợp như vậy, nhà làm luật cần tính đến những hệ quả kéo theo khi chấp nhận các quy định đặc thù này. Ví dụ: khi một phần nội dung có định đoạt đến tài sản riêng thì việc xác định thời điểm hiệu lực của phần di chúc riêng này dẫn đến hậu quả như thế nào, nếu như vợ, chồng thỏa thuận với nhau về thời điểm di chúc chung là thời điểm người sau cùng chết; hoặc nếu vợ, chồng không thỏa thuận được về việc sửa đổi, bổ sung di chúc chung và một bên đã tự ý sửa đổi, bổ sung di chúc chung thì phần sửa đổi, 10 bổ sung đó có giá trị không; hoặc nếu một người để lại nhiều tờ di chúc chung với nhiều người vợ, chồng hợp pháp khác nhau của họ mà trong đó thỏa thuận nhiều thời điểm có hiệu lực khác nhau, đồng thời họ còn lập cả di chúc riêng để định đoạt tài sản riêng, thì các di chúc này được thực hiện như thế nào… cũng cần phải được dự liệu. Việc dự liệu các tình huống trên một mặt khắc phục những bất cập của quy định hiện hành về vấn đề hiệu lực của di chúc chung, đồng thời qua đó cũng hoàn thiện việc xây dựng một mục riêng để quy định về vấn đề di chúc chung, như đã kiến nghị ở mục 3.1.1. ở trên. 3.2.Những phương hướng, kiến nghị cụ thể. Dường như kiến nghị bãi bỏ qui định di chúc chung của vợ, chồng là không khả thi, vì đây là một thực tiễn pháp lý và tục lệ, đã tồn tại từ lâu trong xã hội Việt Nam. Vấn đề cần thiết hiện nay là, làm sao vẫn duy trì di chúc chung nhưng phải hạn chế tối đa những rắc rối, phức tạp do việc thừa loại di chúc này mang lại. Bởi thế, em xin đưa ra một số kiến nghị của một số nhà làm luật, mà qua quá trình tìm hiểu về vấn đề di chúc chung của vợ chồng em tham khảo được, nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung các qui định pháp luật có liên quan tới di chúc chung của vợ, chồng: 3.2.1. Sửa đổi, bổ sung quy định về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung theo hướng dự liệu cả trường hợp có thỏa thuận và không thỏa thuận giữa vợ, chồng về thời điểm này. Theo đó, Điều 668 BLDS 2005 được sửa đổi, bổ sung cụ thể như sau: Điều 668 (sửa đổi, bổ sung) về hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ, chồng: “Khi có một bên vợ hoặc chồng chết trước mà vợ, chồng không có thỏa thuận về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung thì chỉ phần di chúc chung có 11 liên quan đến phần di sản của người chết trước được định đoạt trong di chúc chung có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp vợ, chồng có thoả thuận trong di chúc chung về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung là thời điểm người sau cùng chết, thì di sản được định đoạt trong di chúc chung của vợ, chồng chỉ được phân chia từ thời điểm đó. Việc thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của di chúc chung không làm ảnh hưởng đến quyền thừa kế của những người thừa kế hợp pháp khác của các bên vợ, chồng trong việc yêu cầu tòa án bảo vệ quyền thừa kế hợp pháp của mình khi một bên vợ hoặc chồng chết trước”. Nội dung điều luật được đề nghị sửa đổi nói trên vừa hóa giải sự xung đột giữa quy định về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung với các quy định về thời điểm mở thừa kế, thời điểm phát sinh quyền thừa kế, mốc tính thời hiệu khởi kiện, mốc để tính thời hạn từ chối di sản, quyền yêu cầu chia thừa kế, quyền được hưởng thừa kế bắt buộc…, nhưng cũng vừa thể hiện sự mềm dẻo của luật pháp. Qua đó, tạo cơ hội để những người thừa kế hợp pháp của mỗi bên vợ hoặc chồng được quyền khởi kiện để chia thừa kế bắt buộc, yêu cầu tòa án tuyên bố di chúc chung vô hiệu hoặc yêu cầu tòa án tước quyền thừa kế của người được chỉ định thừa kế theo di chúc chung nhưng có hành vi trái pháp luật được quy định tại Điều 643 BLDS 2005. 3.2.2. Bổ sung quy định về thời điểm có hiệu lực của phần di chúc do một bên sửa đổi, bổ sung mà không được sự đồng ý của người kia. Pháp luật hiện hành không thừa nhận một bên vợ hoặc chồng có quyền tự ý sửa đổi, hủy bỏ di chúc chung mà không được sự đồng ý của người kia. Việc này đã xâm phạm tới quyền tự do định đoạt của cá nhân đối với phần tài sản riêng của mình. Mặt khác, người ta có thể lẩn tránh pháp luật bằng cách định đoạt phần tài sản của họ bằng cách khác, như tặng cho, hoặc bán… 12 Để đảm bảo quyền tự do định đoạt của cá nhân, đảm bảo di chúc được lập phù hợp với ý chí đích thực, tự nguyện của mỗi bên vợ – chồng, bên cạnh việc quy định vợ, chồng cùng nhau thỏa thuận sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ di chúc chung, thiết nghĩ cũng cần phải thừa nhận quyền tự do của mỗi bên vợ, chồng trong việc sửa đổi, bổ sung di chúc chung trong phạm vi phần quyền của mình trong khối tài sản chung, dù không được sự đồng ý của bên kia. Đồng thời với việc thừa nhận mỗi bên vợ hoặc chồng có quyền tự do sửa đổi, bổ sung nội dung di chúc chung trong phạm vi tài sản thuộc quyền sở hữu của mình, luật cũng cần phải quy định hệ quả pháp lý của việc này, nhất là việc xác định thời điểm có hiệu lực của từng phần di chúc chung sau khi di chúc chung đã bị sửa đổi, bổ sung. Cụ thể, sửa đổi Điều 664 BLDS 2005 như sau: Điều 664: “Khoản1(nội dung khoản 1 giữ nguyên). Khoản 2(sửa đổi, bổ sung): Khi vợ hoặc chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung thì phải được sự đồng ý của người kia. Một bên cũng có quyền tự mình sửa đổi, bổ sung di chúc chung trong phạm vi phần di sản của mình. Việc sửa đổi, bổ sung di chúc chung theo ý chí của một bên chỉ có giá trị trong phạm vi phần sửa đổi, bổ sung nhưng không vượt quá phần tài sản của người đó trong khối tài sản chung. Khoản 3(kế thừa quy định của Điều 671 BLDS 1995): Nếu vợ, chồng thỏa thuận về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung là thời điểm người sau cùng chết, mà có một bên vợ chồng đã chết, thì người vợ hay chồng còn sống chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình. Khoản 4(bổ sung quy định mới về hiệu lực của phần di chúc chung bị sửa đổi, bổ sung và phần không bị sửa đổi bổ sung): 13 Thời điểm có hiệu lực của phần di chúc chung không bị sửa đổi, bổ sung và phần di chúc chung bị sửa đổi, bổ sung theo thỏa thuận của vợ, chồng được xác định theo Điều 668 Bộ luật này. Phần di chúc chung đã bị sửa đổi, bổ sung bởi quyết định đơn phương của một bên vợ hoặc chồng có hiệu lực theo quy định tại Điều 667 Bộ luật này”. Quy định như trên nhằm đảm bảo quyền tự do định đoạt cá nhân trong việc để lại di sản thừa kế, đồng thời đảm bảo sự thống nhất giữa quy định này với các quy định khác có liên quan, như quy định về quyền sở hữu chung của vợ, chồng đối với tài sản chung, quy định về thời hiệu khởi kiện thừa kế, thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế đối với di sản do người chết để lại… Hơn thế nữa, quy định này còn tạo cơ hội để một bên có thể sửa chữa những quyết định sai lầm của mình khi lập di chúc chung: được sửa đổi, bổ sung di chúc chung mặc dù không được bên kia đồng ý. Đồng thời với việc sửa đổi quy định tại Điều 664 như vừa nêu, vấn đề thời điểm có hiệu lực của di chúc chung trong trường hợp có sửa đổi, bổ sung cũng được quy định cụ thể theo hướng: ổn định giá trị pháp lý của phần di chúc chung không bị sửa đổi, bổ sung; nếu việc sửa đổi, bổ sung di chúc chung có sự thỏa thuận của vợ, chồng thì thời điểm có hiệu lực của nó được xác định theo nguyên tắc chung (Điều 668); đồng thời tách riêng phần di chúc được sửa đổi, bổ sung bởi quyết định đơn phương của một bên vợ, chồng để xem xét như một di chúc cá nhân. 3.2.3. Bổ sung thêm quy định về thời điểm có hiệu lực của các di chúc có liên quan, nếu vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ, chồng để lại nhiều di chúc khác nhau. Trong trường hợp một người để lại di chúc chung và nhiều di chúc cá nhân khác nhau hoặc để lại nhiều di chúc chung khác nhau (hoặc nhiều di chúc chung với nhiều người vợ hay người chồng hợp pháp khác nhau của người đó) thì sự ảnh hưởng hiệu lực giữa các di chúc này với nhau ra sao, và thời điểm phát sinh hiệu 14 lực của các di chúc là thời điểm nào, là vấn đề phức tạp nhưng vẫn chưa được quy định cụ thể trong luật hiện hành. Thiết nghĩ, giá trị pháp lý cũng như hiệu lực của mỗi tờ di chúc trong trường hợp này phải được xem xét như những di chúc riêng biệt của một cá nhân, dựa trên mối tương quan về nội dung, cũng như thời điểm mà mỗi tờ di chúc được lập. Tùy nội dung các di chúc có mâu thuẫn nhau hay không, tùy thời điểm lập các di chúc là trước hay sau, mà quy định cụ thể về giá trị pháp lý cũng như hiệu lực của từng tờ di chúc đó một cách hợp lý, tương tự như di chúc của cá nhân. Nội dung này được thiết kế thành điều luật mới. Nội dung điều luật có thể được diễn đạt ngắn gọn bằng phương pháp dẫn chiếu điều luật quy định về những nội dung tương ứng của di chúc cá nhân. Theo đó, thiết nghĩ cần bổ sung khoản mới là “Nếu một người vừa lập di chúc chung, vừa lập di chúc riêng hoặc lập nhiều di chúc chung với nhiều người khác nhau, thì việc xác định giá trị pháp lý của mỗi tờ di chúc được dựa theo quy định tại các Điều 662, Điều 664, khoản 5 Điều 667 và Điều 668 của Bộ luật này”. Quy định này nhằm tạo cơ sở pháp lý rõ ràng trong việc giải quyết những những di chúc có nội dung mâu thuẫn nhau, trong trường hợp các di chúc đó được lập vào những thời điểm khác nhau bởi mỗi bên vợ hoặc chồng, hoặc bởi cả hai vợ, chồng. Theo đó, nếu nội dung của các tờ di chúc không mâu thuẫn nhau, thì các di chúc đó đều có giá trị pháp lý; nếu nội dung của các di chúc mâu thuẫn nhau thì di chúc sau cùng là di chúc có giá trị pháp lý; nếu một phần di chúc trước có mâu thuẫn với di chúc sau, thì phần di chúc trước đó không có giá trị pháp lý còn di chúc sau và phần di chúc trước không mẫu thuẫn với di chúc sau có giá trị pháp lý. Quy định như trên cũng tạo ra sự thống nhất với quy định mới về quyền sửa đổi, bổ sung di chúc chung của một bên vợ hoặc chồng. 3.2.4. Cần quy định rõ ràng về hệ quả của việc xác định thời điểm có hiệu lực của di chúc chung với việc tính thời hiệu khởi kiện thừa kế. 15

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Người đóng góp cho blog

Được tạo bởi Blogger.